Quá trình hình thành và phát triển Thư viện
Trường Đại học CSND tiền thân là Trường Hạ sỹ quan CSND II, được thành lập ngày 24/4/1976. Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, nhà trường đã trở thành một cơ sở giáo dục có uy tín, vị thế trong hệ thống các trường đại học của cả nước cũng như hệ thống các học viện, trường đại học trong ngành Công an nhân dân. Đi đôi với việc đầu tư cho đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, kỹ thuật… Trường luôn chú trọng xây dựng hệ thống thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa (TTKH&TLGK). Vì vậy, gắn liền với sự phát triển của Trường, Trung tâm LT&TV từng bước được xây dựng, phát triển và trưởng thành. Đến nay, Trung tâm đã vững mạnh, có đủ tiềm lực, đáp ứng tốt các yêu cầu về thông tin, tài liệu phục vụ nghiên cứu giảng dạy và học tập của cán bộ, giảng viên và sinh viên Nhà trường.
Ngày 24/4/1976, Trường HSQCSND II được thành lập theo Quyết định số 13/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), đơn vị là một bộ phận công tác thuộc Phòng Giáo vụ, có tên là “Tổ Tư liệu, thư viện” với nhiệm vụ: phục vụ tư liệu, quản lý đồ dùng dạy học, thư viện, in ấn; biên chế của Tổ có 9 cán bộ, chiến sĩ. Từ năm 1982 -1984 Trường đổi tên thành Trường Trung học CSND II, Phòng Giáo vụ được đổi tên thành Phòng Giáo vụ – Tổng hợp; công tác thông tin, tư liệu, thư viện vẫn thuộc Phòng Giáo vụ- tổng hợp, với các bộ phận thư viện, tư liệu, in ấn, quản lý đồ dùng dạy học, lưu trữ hồ sơ phục vụ yêu cầu giảng dạy và học tập của Trường.
Ngày 19/10/1985, Bộ Nội vụ có Quyết định số 124/QĐ-BNV chuyển Trường Trung học CSND II thành Trường Cao đẳng CSND II, thực hiện nhiệm vụ đào tạo Cao đẳng hệ chính quy, chuyên tu đại học, đại học tại chức, bồi dưỡng lãnh đạo và Trung học CSND hệ tại chức mở rộng. Tổ Tư liệu thư viện được tách khỏi Phòng Giáo vụ – Tổng hợp thành Phòng Tư liệu giáo khoa.
Năm 1989, Bộ Nội vụ có Quyết định số 53/QĐ-BNV, chuyển Trường Cao đẳng CSND II thành Cơ sở phía Nam của Trường Đại học CSND (nay là Học viện CSND). Phòng vẫn có tên gọi là Phòng Tư liệu giáo khoa, gồm các Tổ Thư viện, Tư liệu, Đồ dùng dạy học, Lưu trữ hồ sơ.
Ngày 02/06/1995, Bộ Nội vụ có Quyết định số 350 QĐ/BNV (X13) chuyển Cơ sở phía Nam – Trường Đại học CSND thành Phân hiệu Đại học CSND trực thuộc Trường Đại học CSND. Theo đó, đơn vị được đổi tên thành Phòng Tư liệu giáo dục (TLGD), có 15 cán bộ, chiến sĩ, biên chế thành 4 Tổ: Thông tin tư liệu, Thư viện, In ấn, Đồ dùng dạy học.
Năm 2000, Trường Đại học CSND được chuyển thành Học viện CSND (T32). Theo đó, ngày 2/10/2001, Bộ Công an có Quyết định số 970/2001/QĐ-BCA(X13) chuyển Phân hiệu Đại học CSND (T32B) thành Phân hiệu Học viện CSND. Phòng TLGD thành Phòng Tư liệu giáo khoa và thông tin khoa học.
Ngày 28/7/2003, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 152/2003 thành lập Trường Đại học CSND trên cơ sở Phân hiệu Học viện CSND. Trung tâm LT&TV được thành lập trên cơ sở Phòng Tư liệu giáo khoa và thông tin khoa học. Lúc này, Trung tâm có 23 CBCS, được biên chế ở 4 tổ công tác chuyên môn: Tổ Thông tin khoa học, Tổ Tư liệu thư viện, Tổ In sao, Tổ Quản lý phương tiện dạy học. Ban Giám đốc gồm: Giám đốc Nguyễn Như Thuật và Phó Giám đốc Trần Công Cư; sau đó đơn vị được Ban Giám hiệu (BGH) điều thêm đồng chí Mai Đức Hồng phụ trách Phòng QLNĂ đến giữ chức vụ Phó Giám đốc.
Năm 2007,theo quyết định 1642/2007-X11(X12) ngày 23/8/2007 của Tổng cục III đơn vị được biên chế thành 2 Tổ công tác là Thông tin khoa học – Tư liệu Thư viện và Quản lý Đồ dùng dạy học – In sao tài liệu.
Ngày 08/03/2012, Tổng Cục XDLL CAND ban hành Quyết định số 1872/QĐ-X11 về việc bổ sung và thay đổi tổ chức bộ máy của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa thuộc Trường Đại học Cảnh sát nhân dân như sau: Bổ sung nhiệm vụ Tổ chức quản lý, ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; quản lý, khai thác phòng truyền thống của Trường cho Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa thuộc Trường Đại học Cảnh sát nhân dân.
Ngày 18/11/2015, Quyết định số 6491/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã đổi tên thành Trung tâm Lưu trữ và Thư viện.
Ngày 30/9/2016, Quyết định số 11643/QĐ-X11-X12 của Tổng Cục trưởng Tổng cục CSND Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trung tâm Lưu trữ và Thư viện thuộc Trường Đại học Cảnh sát nhân dân. Được biên chế thành 3 Đội: Đội Thư viện và Lưu trữ; Đội Quản trị mạng và Bảo mật; Đội In, Chế bản tài liệu.
Thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, ngày 31/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 106/QĐ-TTg phê duyệt Đề án sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Công an. Ngày 24/3/2020, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các Học viện, trường đại học CAND, trong đó có Trường Đại học CSND và Quyết định 2059/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân.
Ngày 30/11/2020, Quyết định số 9850/QĐ-BCA của Bộ trưởng BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trung tâm Lưu trữ và Thư viện thuộc Trường Đại học Cảnh sát nhân dân. Thay đổi một số nhiệm vụ và bỏ Tổ, Đội trong cơ cấu tổ chức Trung tâm LT&TV như: Bổ sung nhiệm vụ Tổ chức, thực hiện hướng dẫn kiểm tra công tác lưu trữ của Trường; Chuyển công tác quản trị hạ tầng mạng CNTT sang Phòng HCTH, chuyển việc quản lý khai thác Phòng Truyền thống sang Phòng Chính trị… Về cơ cấu tổ chức Trung tâm LT&TV gồm có 1 Giám đốc và không quá 03 phó Giám đốc, không có cơ cấu cấp Đội.
Ngày 18/11/2024, Quyết định số 8446/QĐ-BCA của Bộ trưởng BCA quy định về tổ chức bộ máy của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã đổi tên Trung tâm Lưu trữ và Thư viện thành Phòng Lưu trữ và Thư viện.
Ngày 20/05/2025, Bộ trưởng BCA ban hành Quyết định số 3611/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phòng Lưu trữ và Thư viện thuộc Trường Đại học Cảnh sát nhân dân. Bổ sung nhiệm vụ tổ chức công tác số hóa, tài liệu, hình thành phổ biến trong Công an nhân dân… Về cơ cấu tổ chức Phòng LT&TV gồm có 1 Trưởng phòng và không quá 03 Phó Trưởng phòng, không có cơ cấu cấp Đội.








